Luật nào bảo vệ người vay tiêu dùng?

Thứ Hai, 19/10/2015, 17:41 GMT+7

Ở Việt Nam, xe gắn máy là một trong những loại hàng hóa thường được chọn để vay tiêu dùng. Lãi suất cho vay cao ngất ngưởng, đòi nợ kiểu khủng bố tinh thần và thẩm định khoản vay sơ sài là những vấn đề nổi lên trong hoạt động cho vay tiêu dùng thời gian gần đây.

Bài viết này phân tích một số quy định pháp luật hiện hành về việc này đồng thời giới thiệu một số kinh nghiệm ở các nước, vì quyền lợi của người tiêu dùng và thúc đẩy thị trường cạnh tranh làm mạnh.

Lãi suất “cắt cổ”: có nên đặt trần lãi suất cho vay?

Tùy theo tình hình tài chính và việc có hay không có tài sản bảo đảm, bên cho vay (ngân hàng/công ty tài chính) sẽ chào các mức lãi suất khác nhau. Cho dù các bên có quyền thỏa thuận lãi suất vay nhưng khi nó lên đến mức vô lý 80-90% một năm(1) (chưa kể các nghĩa vụ tài chính khác như lãi suất phạt nợ quá hạn, phí hồ sơ, phí bảo hiểm khoản vay...) thì nó có còn được coi là hợp pháp nữa không?

Trong khi quy định cấm cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản (hiện nay là 9%) của Bộ luật Dân sự 2005, vốn có hiệu lực từ 10 năm trước, đã trở nên quá lạc hậu, thì tội cho vay nặng lãi theo điều 163 - Bộ luật Hình sự 1999 cũng không dễ áp dụng vì bên cho vay là các pháp nhân và việc chứng minh họ cho vay “có tính chất chuyên bóc lột” là điều gần như không thể.

Trong khi Nghị định 96/2014/NĐ-CP (về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng) không có quy định xử phạt hành chính đối với hành vi cho vay vượt giới hạn lãi suất, thì dự thảo Thông tư quy định hoạt động tín dụng tiêu dùng của công ty tài chính cũng không có ý định đặt trần lãi suất cho vay.

Tóm lại, luật hiện hành gần như không điều tiết (hay có cũng như không) về giới hạn lãi suất cho vay tiêu dùng. Lãi suất “cắt cổ” như vậy không thể được xem là hợp lý dưới mắt người đi vay cho dù người cho vay có lý của mình (như lãi suất đầu vào cao, chi phí duy trì bộ máy lớn, rủi ro cho vay tiêu dùng rất cao).

Nếu trần lãi suất huy động vốn đã từng được sử dụng, can thiệp vào nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên, thì trần lãi suất cho vay càng có lý do để tồn tại nhằm bảo vệ người vay tiêu dùng. Đã đến lúc phải giới hạn trần lãi suất như các nước phát triển đang làm. Mức trần nào thì cần có những nghiên cứu định lượng sâu hơn.

Lấy thí dụ ở Úc, đối với khoản vay trung bình với số tiền vay 2.001-5.000 đô la Úc và thời hạn vay từ 16 ngày đến hai năm, luật nước này quy định phí hồ sơ tối đa là 400 đô la Úc và lãi suất theo năm tối đa là 48%, bao gồm tất cả các loại phí và lệ phí khác(2).

Luật nào điều chỉnh hoạt động đòi nợ?

Là người đi vay, bạn sẽ cảm thấy cực kỳ phiền toái và bị xâm phạm đời tư khi bên cho vay liên tục nhắn tin, gọi điện thúc giục trả nợ bất kể giờ giấc, ngay cả khi khoản nợ chưa đến hạn. Hơn thế, bên cho vay còn liên tục gọi đến nhà và người thân của người vay để đòi nợ, thậm chí còn gửi thư “đe dọa” sẽ “khởi kiện ra tòa, đồng thời sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án và chính quyền địa phương” nếu người vay không thanh toán đầy đủ trong 10 ngày...

Thật khó để chỉ ra những hành vi đòi nợ kiểu “khủng bố tinh thần” nêu trên vi phạm điều luật cụ thể nào theo luật lệ hiện hành. Nghị định 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ nghiêm cấm “hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền tự do cá nhân, quyền tài sản và các quyền dân sự khác” của người vay (điều 11, khoản 2a). Nhưng điều này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ, không áp dụng đối với chủ nợ (người cho vay) và cũng không thấy quy định phạt hành chính cho hành vi này. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng có quy định tương tự (điều 10, khoản 3a), nhưng chưa rõ điều luật có áp dụng trong việc đòi nợ hay không.

Hãy xem luật của Úc điều chỉnh hành vi này như thế nào. Luật nước này quy định rằng người đòi nợ khi liên lạc với khách nợ phải có một lý do chính đáng và phải tính đến mọi hoàn cảnh và bất kỳ yêu cầu hợp lý nào của khách nợ về cách thức và thời gian có thể liên lạc được. Trừ khi khách nợ có yêu cầu hoặc thỏa thuận khác, liên lạc bằng điện thoại không hơn ba lần trong một tuần hay 10 lần trong một tháng trong khoản thời gian nhất định; nếu gặp trực tiếp thì chỉ một lần trong tháng và chỉ được đến nhà khách nợ khi không có cách thức liên lạc nào khác(3).

Sản phẩm tín dụng tiêu dùng phải “phù hợp” với người đi vay

Nhiều công ty tài chính hiện đang sẵn sàng cho vay trả góp mà không cần khách hàng chứng minh thu nhập, đồng nghĩa với việc họ không thực sự cần đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trước khi quyết định cho vay. Điều này rõ ràng không đúng luật, vì Quy chế cho vay 1627 buộc bên vay phải “xem xét, đánh giá... khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay” (điều 15) và một trong những điều kiện để bên cho vay xem xét và quyết định cho vay là “khách hàng có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ trong thời gian cam kết” (điều 7). Tuy nhiên, những quy định đơn giản đó rất dễ đối phó bằng cách làm hồ sơ “cho có”, đặc biệt là với các khoản vay tiêu dùng giá trị nhỏ.

Cần thiết phải “đổi mới” quy định lỏng lẻo này. Cách tiếp cận hợp lý hơn cả là áp đặt lên bên cho vay (và cả môi giới) nghĩa vụ “cho vay có trách nhiệm” kiểu như Úc đang làm (xem bài Bảo vệ người tiêu dùng trước người... cho vay trên TBKTSG số ra ngày 5-3-2015).

Về hình thức, quy định này không khác gì mấy so với các quy trình cho vay của các ngân hàng và công ty tài chính hiện đang sử dụng. Nhưng nó khác về giá trị pháp lý: ở Úc, đó là các quy định ở tầm đạo luật và bị phạt nặng nếu vi phạm, trong khi ở ta “quy trình cho vay” khó có thể được coi là luật, mà chỉ là văn bản có giá trị trong nội bộ của bên cho vay mà thôi.

Luật Việt Nam, khác với Úc, buộc bên vay phải có “quy trình cho vay” và có thể phải có “hệ thống thẻ chấm điểm tín dụng”(4). Nhưng Ủy ban Chứng khoán và Đầu tư Úc (ASIC) cho rằng nếu không có quy trình cho vay “thích hợp” thì rất khó để chứng minh việc tuân thủ quy định cho vay có trách nhiệm. Thêm nữa, phương pháp chấm điểm tín dụng, vốn chỉ đo lường rủi ro của khách hàng nhưng không đánh giá năng lực trả nợ của họ, sẽ không được coi là đủ để đáp ứng được quy định này.

Vai trò của “bộ quy tắc ứng xử”

Người tiêu dùng nói chung cần được bảo vệ bởi họ luôn ở thế yếu so với bên bán hàng/cung cấp dịch vụ, thiếu kiến thức/thông tin và thiếu phương tiện giải quyết tranh chấp phù hợp.

Ban hành các văn bản pháp luật không phải là cách duy nhất để bảo vệ người (vay) tiêu dùng cho dù cách đó quan trọng nhất. Ở các nước phát triển, nơi mà luật lệ bảo vệ người tiêu dùng đã phát triển rất cao, họ vẫn cần đến “bộ quy tắc ứng xử” (code of conduct)(5). Đây không phải là luật, mà là văn bản do các định chế tài chính, thông qua các hiệp hội của họ, tự nguyện xây dựng và tham gia. Một khi đã tham gia thì các định chế tài chính sẽ phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định của bộ quy tắc và nếu vi phạm khách hàng có thể khởi kiện vi phạm hợp đồng. Bộ quy tắc thường được giám sát và bảo đảm tuân thủ bởi một ủy ban độc lập.

Mục đích của các bộ quy tắc này là xác lập các tiêu chuẩn thực hành tốt cho các định chế tài chính phải tuân thủ khi phục vụ khách hàng/người tiêu dùng (chủ yếu cá nhân và doanh nghiệp nhỏ). Thông qua đó, nó tạo ra cạnh tranh lành mạnh và khuyến khích nâng cao tiêu chuẩn thực hành vì lợi ích của người tiêu dùng.

Xem thêm: Mua hàng chọn lọc

Xem thêm: Mẹo nhỏ mỗi ngày

Tags: vay tài chính, tài chính, cho vay, chi phí, kinh phí, ngân hàng, tài chính cá nhân, vay tài chính cá nhân, vay tiêu dùng, lãi suất vay tiêu dùng, luật cho vay tiêu dùng
VayTaiChinh.com / Tài chính cá nhân
Tags: vay tài chính, tài chính, cho vay, chi phí, kinh phí, ngân hàng, tài chính cá nhân, vay tài chính cá nhân, vay tiêu dùng, lãi suất vay tiêu dùng, luật cho vay tiêu dùng
VayTaiChinh.com / Tài chính cá nhân